Đặc sản‎ > ‎

Đặc sản Bắc Giang

Đặc sản tại Bắc Giang

Bánh Tro - món ngon dân dã

Bánh tro (hay còn gọi là bánh gio) ngay cái tên gọi đã khiến người nghe liên tưởng đến một món ăn đậm chất quê. Thực vậy, cũng như những món bánh khác, bánh tro là một món ăn dân dã, mộc mạc, dễ làm và rất ngon. Đây là một thức quà từ lâu đã trở thành đặc sản ẩm thực ở làng Đa Mai, xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

Bánh Tro Bắc Giang

Sở dĩ có tên gọi là bánh tro vì nước dùng để ngâm gạo làm bánh và luộc bánh đều được lấy phần nước trong, lắng từ nước tro (gio) của nhiều loại cây khác nhau. Nếu như đối với nhiều nơi, bánh tro chỉ được làm vào các dịp Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5), Tết Nguyên Đán thì với người dân làng Đa Mai bánh tro được làm hàng ngày để mang đi bán rộng rãi ở các chợ, ngõ phố và một số quán ăn dân tộc trong khu vực nội thành.



Ngày nay, bánh tro được coi như một thứ quà quê của người thành phố. Cứ vào mỗi buổi sáng hay chiều về, đi trên đường ta lại bắt gặp những gánh hàng bán rong đi quanh các con phốvà những tiếng rao rất đỗi quen thuộc mỗi ngày “ai bánh tro đơi…ơi…ơi!”.

Thưởng thức món chè đỗ đãi Mỹ Độ ngày xuân

Bắc Giang không chỉ hấp dẫn du khách về những điểm du lịch độc đáo, mà còn hấp dẫn bởi nơi đây có những món đặc sản vùng nổi tiếng như: mỳ Chũ, bánh đa Kế, bún Đa Mai, Rượu làng Vân…Và đặc biệt là món chè đỗ đãi ngọt ngào được làm bởi những đôi tay khéo léo, giàu kinh nghiệm của người dân Mỹ Độ- một ngôi làng nhỏ nằm ven bờ sông Thương thơ mộng, hiền hòa.



Làng Mỹ Độ( nay đổi tên là phường Mỹ Độ) nằm ở phía Tây thành phố Bắc Giang. Từ trung tâm thành phố qua cầu Sông Thương là đến làng Mỹ Độ. Nếu đi từ Bắc Ninh, bạn sẽ đi dọc theo quốc lộ 1A (cũ) khoảng 10km là tới làng Mỹ Độ. Lối vào làng đã được trải nhựa và mở rộng, nó mang vẻ đẹp của một khu phố đông đúc. Tuy nhiên, nơi đây, người dân vẫn giữ một nghề thủ công truyền thống, ấy là nghề làm chè kho (chè đỗ đãi). Món chè đỗ đãi đã tồn tại gần 100 năm nay, khi những người nông dân làng Mỹ Độ trồng đậu xanh trên cánh đồng rộng lớn. Ngày nay, những cánh đồng này đã được thay thế bởi các nhà máy, các doanh nghiệp, công ty…Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp và người dân địa phương không còn đất để trồng đậu xanh, nhưng người dân nơi đây vẫn giữ nghề truyền thống của cha ông để mang đến hương vị ngọt ngào cho những người đã từng một lần được thưởng thức món chè này.



Đỗ đã đãi vỏ, đổ vào nồi, cho nước trên đốt ngón tay thì bắt đầu nổi lửa. Nấu chè đỗ đãi phải nấu bằng củi, vì củi giúp giữ nhiệt lâu lại có thể điều chỉnh ngọn lửa cho phù hợp. Nấu chè đỗ đãi quan trọng là điều chỉnh lửa. Lửa to, nồi chè dễ bén mà lửa nhỏ đỗ sượng không chín đều cũng coi như hỏng nồi chè. Khi đỗ sủi phải hớt hết bọt, ninh cạn, giảm lửa, vần nồi chè trên bếp bằng nhiệt than củi cho đỗ chín đều. Khi đỗ bắt đầu nhuyễn, là lúc cho đường vào. Cứ 1kg đỗ thì 1,3 kg đường, nếu thiếu đường, chè sẽ không sánh, dễ vữa khi đổ khuôn. Sau khi cho đường vào, chè dễ bén nồi vì thế điều chỉnh ngọn lửa chỉ liu riu trên bếp. Lúc này, khâu quấy chè là rất quan trọng. Quấy liên tục, đều tay, càng quấy nhiều, chè càng nhuyễn, càng sánh. Đun nồi chè thông thường hết 5 tiếng thì riêng việc quấy chè đã mất gần 3 tiếng. Quấy chè đến khi chè trong nồi sóng sánh như mật thì cho va ni vào. Để đĩa chè đẹp mắt, khâu múc chè cũng phải có kỹ thuật, phải múc khi nóng đổ đều tay quay tròn trên đĩa để chè thành khuôn, phẳng tròn. Lúc này rắc vừng đã rang chín vàng, sẩy sạch vỏ lên trên mặt đĩa chè”. Đĩa chè thành phẩm đạt yêu cầu phải vừa tròn với miệng đĩa, có màu vàng óng của đỗ xanh, mặt đĩa chè láng mịn và những hạt vừng rang vừa chín tới rắc đều tay tô điểm cho đĩa chè thêm phần sinh động. Với những người “nghiện” món chè này thì đêm trăng rằm sau khi thắp tuần nhang mời ông bà tổ tiên, đĩa chè được hạ xuống, chủ nhà ngồi nhâm nhi chè bên ấm trà xanh, tận hưởng cảm giác ngọt ngào đê mê nơi đầu lưỡi. Vào những ngày nóng nực, thả miếng chè đỗ đãi vào cốc nước đá khuấy đều, món chè đã trở thành đồ uống giải nhiệt thơm mát.


Món ngon từ Cua Đá Bắc Giang


Nếu có dịp về với đất Yên Dũng (Bắc Giang) vào cữ gió heo may về, thế nào bạn cũng sẽ được chiêu đãi một trong những món ngon và hiếm bởi lòng hiếu khách của người dân nơi đây được chế biến từ Cua Da.



Có một loài cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận một số xã ven sông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) như: Đồng Việt, Đồng Phúc, Thắng Cương mà dân trong vùng quen gọi là “Cua Da”. Loài cua này rất đặc biệt ở chỗ chỉ xuất hiện và khoảng đầu Đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10 âm lịch) hàng năm.

Đây là một loài cua sông to gần bằng con ghẹ, về hình thức cơ bản trông giống loài cua đồng, nhưng chân dài, mình to gấp ba, bốn lần cua đồng và mang một số đặc điểm khác biệt với họ nhà cua. Đó là hai càng của giống cua này có hai lớp lông như rêu bám vào, yếm cua cũng có lớp diềm rêu điệu đà. Chính cái lớp lông rêu này đã khiến nhiều người băn khoăn về tên gọi của loài cua này là: “Cua Da, Cua Da hay là Cua Gia?”. Có người nói rằng phải gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng chín cua ra, tháng ba cua vào”. Có người lại nói phải gọi là “cua da” vì loài cua này có một lớp da trên càng. Có người lại bảo phải gọi là “cua gia”, vì đơn giản tên gọi ấy nghe có vẻ hay hơn, hợp lý hơn.



Theo kinh nghiệm của người dân làng chài nơi đây, Cua Da có thể được chế biến thành nhiều món như: cua hấp bia, cua rang muối, cua chiên, cua giã nấu canh… Nhưng ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Bỏ cua vào thùng, xả nước và xóc mạnh cho sạch. Mỗi con cua to nặng từ 100g-200g, xếp vào nồi, rắc thêm chút bột canh, bỏ thêm xả, gừng, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp. Để lửa thật nhỏ, đun li ti cho đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên là bắc ra. Lửa nhỏ để giữ cho càng và chân không bị rụng, đồng thời để gia vị ngấm, khử mùi tanh.

Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khá mềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua hay ghẹ biển. Ăn cua da chấm bột canh pha mù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng. Thật cảm ơn cho người đưa món cua này vào thành món đặc sản. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây tăng thêm thu nhập, mà còn góp phần đưa vùng đất này có thêm một món đặc sản “của hiếm Cua Da”.


Nghề làm bún Đa Mai


Người Bắc Giang từ lâu lưu truyền câu vè "Bún Đa Mai, vai làng Đò, giò làng Thương, tương làng Bún...". Đến xã Đa Mai ngày nay, bạn không thể bỏ qua loại bún có sợi trắng muốt, dẻo thơm mắt lành, để cả ngày không chua này.



Xã Đa Mai thuộc thành phố Bắc Giang. Nguồn sống chính của người dân nơi đây là chế biến lương thực, mà nổi tiếng nhất là bún. Nguyên liệu làm bún là gạo bao thai hồng loại 1, gạo T16, đem vo, đãi sạn rồi ngâm nước 7- 8 tiếng. Tiếp đến cho gạo vào cối xay bột nước, xay vài lần cho bột thật nhỏ mịn, đem ngâm kỹ hơn 2 ngày 2 đêm. Trong ảnh là khay bột nước trước khi được ép khô.



Bột qua lọc được ép hết nước, để khô rồi viên thành thành từng quả bột to vừa phải. Các quả bột này tiếp tục được cho vào nồi luộc chín độ 1/4, rồi lại bỏ vào cối giã nhuyễn để tạo độ dẻo.



Qủa bún lấy ra cho vào chậu sành nhào thật kỹ, rồi lại đem lọc lại và chỉ lấy phần bột nhuyễn cho vào khuôn ép để trên nồi nước đã đun sôi, các sợi bún sẽ chảy xuống nồi. Khi các sợi bún nổi lên là chín, vớt ra đem thả vào nước sôi để nguội khoảng 25 độ rồi dỡ ra để nguội, đem bán. Trong ảnh là công đoạn rửa bún bằng nước sôi để nguội cuối cùng.



Bún lá Đa Mai chuẩn bị xuất xưởng. Toàn xã có khoảng 220 hộ làm nghề, mỗi ngày sản xuất ra khoảng 10 tấn bún, không chỉ cung cấp cho thị trường thành phố Bắc Giang mà còn có mặt ở nhiều nơi khác như: Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Quảng Ninh…



Nghề làm bún đã trở thành niềm tự hào của Đa Mai, góp phần đổi đời cho người dân nơi đây.


Về Bắc Giang ăn mỳ Chũ, uống trà đắng vỉa hè

Đã về Bắc Giang là phải ăn mỳ Chũ và uống nước chè đắng. Các loại lẩu ở Bắc Giang đều có kèm mỳ Chũ - những sợi bánh mảnh, giòn, được bó lại thành từng bó, gọn gàng đặt trong đĩa. Khi ăn cho vào nồi lẩu nhúng đến chín. Bánh chín rất mềm, dai, khi ăn cảm nhận được vị dẻo và thơm của gạo. Mỳ Chũ khi nhúng và nấu trong nồi lẩu không bị đục nước nên được người dân rất ưa chuộng. Một nồi lẩu thập cẩm ở Bắc Giang ăn với mỳ Chũ khá rẻ, ăn đến no và uống đến say cũng chỉ hết 200 đến 300 ngàn đồng cho 4 - 5 người.



Đến với Bắc Giang, nếu đã một lần được ngồi vỉa hè và nhâm nhi ly chè đắng Cao Bằng trên miền đất của những làn điệu quan họ, bạn sẽ không thể nào quên được cái cảm giác thú vị, gật gù bên câu chuyện mưu sinh đêm của những chủ quán cóc nơi này. Chè thơm ở một cung bậc rất khó diễn tả. Hơi chè lảng vảng bốc lên trong những ngày đông, ấm lòng. Nhấp một chút để quen vị đắng, uống thật từ tốn, và cảm nhận vị ngọt còn lại đọng trên đầu lưỡi.

Các quán cóc bán chè đắng tập trung ở trung tâm thành phố, ở công viên, khu nhà ga, bến tàu. Quán nào cũng có cùng một kiểu ly Nhật Bản lùn, trắng, giữ nhiệt tốt. Chỉ nhìn màu chè xanh sóng sánh trong ly cũng đủ xao lòng...

Mỳ làng Chũ là đặc sản Bắc Giang, cách trung tâm thành phố không xa, nên bạn có thể đến tận nơi sản xuất để mua về làm quà. Chắc chắn, nó sẽ là món quà ý nghĩa cho chuyến "phượt" ngẫu hứng của bạn về Bắc Giang.